Xuất hàng chuyển kho nội bộ có phải lập hóa đơn điện tử không? Cập nhật quy định năm 2026 về trường hợp chuyển kho nội bộ, hàng hóa tiêu dùng nội bộ và các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử.
Từ ngày 01/7/2026, quy định về hóa đơn điện tử có một số thay đổi đáng chú ý. Trong đó, hàng hóa được xuất để chuyển kho nội bộ nhằm tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp phải lập hóa đơn điện tử.
Xuất hàng chuyển kho nội bộ có phải lập hóa đơn điện tử không?
Theo điểm a khoản 8 Điều 7 Nghị định 254/2026/NĐ-CP, một trong các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử là:
Hàng hóa, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của cơ sở kinh doanh, bao gồm hàng hóa xuất để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục sản xuất, kinh doanh trong cùng một cơ sở kinh doanh.
Như vậy, khi doanh nghiệp xuất hàng từ kho này sang kho khác trong nội bộ doanh nghiệp để tiếp tục phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thì không phải lập hóa đơn điện tử.
Quy định này được áp dụng từ 01/7/2026, thời điểm Nghị định 254/2026/NĐ-CP có hiệu lực.
Hàng chuyển kho nội bộ có phải là hàng hóa tiêu dùng nội bộ không?
Không.
Khoản 1 Điều 6 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ là hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung cấp để sử dụng cho tiêu dùng.
Tuy nhiên, quy định này không bao gồm hàng hóa sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh, chẳng hạn:
Hàng hóa xuất để chuyển kho nội bộ;
Vật tư xuất để tiếp tục sản xuất;
Bán thành phẩm xuất để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh trong cùng một cơ sở kinh doanh.
Do đó, việc chuyển hàng giữa các kho nội bộ để phục vụ hoạt động kinh doanh không được xem là hoạt động tiêu dùng nội bộ.
Ví dụ
Công ty có kho hàng tại Hà Nội và một kho khác tại Hưng Yên.
Công ty xuất 500 sản phẩm từ kho Hà Nội sang kho Hưng Yên để tiếp tục lưu trữ và phục vụ bán hàng.
Trường hợp này là chuyển kho nội bộ, không phải bán hàng cho một đơn vị khác và cũng không phải tiêu dùng nội bộ.
→ Công ty không phải lập hóa đơn điện tử cho việc chuyển kho này.
Doanh nghiệp vẫn cần thực hiện các chứng từ nội bộ, sổ sách kho và chứng từ xuất - nhập kho theo quy định để theo dõi hàng hóa.
Khi nào xuất hàng phải lập hóa đơn?
Không phải mọi trường hợp xuất hàng khỏi kho đều được miễn lập hóa đơn.
Nếu hàng hóa được xuất kho để bán cho khách hàng, cung cấp cho tổ chức hoặc cá nhân khác, doanh nghiệp phải thực hiện lập hóa đơn theo quy định về hóa đơn điện tử.
Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc chung là khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn điện tử giao cho người mua, trừ các trường hợp được quy định không phải sử dụng hóa đơn điện tử.
Vì vậy, doanh nghiệp cần phân biệt rõ:
Trường hợp xuất hàng | Hóa đơn điện tử |
|---|---|
Xuất hàng chuyển kho nội bộ | Không phải lập |
Xuất vật tư để tiếp tục sản xuất | Không phải lập |
Xuất bán thành phẩm để tiếp tục sản xuất, kinh doanh trong cùng cơ sở | Không phải lập |
Xuất hàng bán cho khách hàng | Phải lập theo quy định |
Xuất hàng cho, biếu, tặng hoặc các trường hợp khác thuộc diện phải lập hóa đơn | Thực hiện theo quy định tương ứng |
Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi chuyển kho nội bộ?
Mặc dù không phải lập hóa đơn điện tử, doanh nghiệp vẫn nên có đầy đủ chứng từ để chứng minh nghiệp vụ xuất - nhập kho là chuyển kho nội bộ.
Một số chứng từ có thể sử dụng gồm:
Phiếu xuất kho;
Phiếu nhập kho tại kho nhận;
Lệnh điều chuyển hàng hóa;
Biên bản giao nhận hàng hóa nếu cần;
Chứng từ vận chuyển và các tài liệu liên quan.
Các chứng từ này giúp doanh nghiệp theo dõi số lượng hàng hóa giữa các kho và giải trình khi cần thiết.
Kết luận
Xuất hàng chuyển kho nội bộ không phải lập hóa đơn điện tử nếu hàng hóa được chuyển để tiếp tục phục vụ quá trình sản xuất, kinh doanh trong cùng một cơ sở kinh doanh.
Quy định này được ghi nhận tại Nghị định 254/2026/NĐ-CP và có hiệu lực từ 01/7/2026. Đồng thời, Nghị định 181/2025/NĐ-CP cũng xác định hàng hóa xuất để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư hoặc bán thành phẩm để tiếp tục sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp hàng hóa tiêu dùng nội bộ.
Căn cứ pháp lý:
Nghị định 254/2026/NĐ-CP;
Nghị định 181/2025/NĐ-CP.



