Doanh nghiệp chỉ có một người, không có nhân viên thì có phải tham gia BHXH bắt buộc không? Cập nhật quy định về BHXH đối với người quản lý doanh nghiệp, mức đóng và một số lưu ý năm 2026.
Từ ngày 01/07/2025, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, trong đó bao gồm người quản lý doanh nghiệp có hưởng lương và không hưởng lương.
Vì vậy, việc doanh nghiệp chỉ có một người và không sử dụng nhân viên không đồng nghĩa với việc người đứng đầu doanh nghiệp được miễn tham gia BHXH bắt buộc.
1. Doanh nghiệp một người có phải tham gia BHXH bắt buộc?
“Doanh nghiệp một người” thường được hiểu là doanh nghiệp chỉ có một cá nhân trực tiếp vận hành, không có người lao động khác.
Theo điểm i và điểm n khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2024, người quản lý doanh nghiệp thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trong cả hai trường hợp:
Có hưởng tiền lương;
Không hưởng tiền lương.
Trong đó, người quản lý doanh nghiệp bao gồm các chức danh quản lý theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, chẳng hạn như chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác.
Do đó, nếu một cá nhân vừa là người quản lý vừa trực tiếp vận hành doanh nghiệp thì việc doanh nghiệp không có nhân viên khác không làm mất nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc của người này.
Ví dụ
Ông A thành lập một công ty TNHH một thành viên và trực tiếp điều hành doanh nghiệp. Công ty không thuê nhân viên và ông A cũng không nhận tiền lương từ công ty.
Trong trường hợp ông A thuộc chức danh người quản lý doanh nghiệp, ông vẫn thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định hiện hành.
2. Người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương có phải đóng BHXH không?
Có.
Đây là điểm đáng chú ý của Luật BHXH 2024.
Trước đây, người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương không thuộc diện BHXH bắt buộc theo quy định cũ. Từ ngày 01/07/2025, Luật BHXH 2024 đã bổ sung nhóm người quản lý doanh nghiệp không hưởng tiền lương vào diện tham gia BHXH bắt buộc.
Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc chủ doanh nghiệp không nhận lương để cho rằng không phải đóng BHXH.
3. Mức đóng BHXH của người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương
Theo Điều 31 và Điều 33 Luật BHXH 2024, người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương được lựa chọn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH trong giới hạn:
Thấp nhất bằng mức tham chiếu;
Cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Từ ngày 01/07/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh lên 2.530.000 đồng/tháng và trong thời gian chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu được xác định bằng mức lương cơ sở. Theo đó, mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH hiện nay:
Thấp nhất: 2.530.000 đồng/tháng;
Cao nhất: 50.600.000 đồng/tháng.
Đối với người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương, mức đóng BHXH bắt buộc là:
25% × tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH
Trong đó:
3% vào quỹ ốm đau, thai sản;
22% vào quỹ hưu trí, tử tuất.
Ngoài BHXH, người tham gia còn có khoản đóng BHYT theo quy định. Hướng dẫn thu hiện hành xác định tổng mức đóng BHXH và BHYT của người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương là 29,5%, gồm 25% BHXH và 4,5% BHYT.
Ví dụ
Nếu người quản lý lựa chọn mức tiền lương đóng BHXH là 2.530.000 đồng/tháng thì:
BHXH phải đóng = 2.530.000 × 25% = 632.500 đồng/tháng.
Nếu tính cả BHYT 4,5%:
Tổng BHXH + BHYT = 2.530.000 × 29,5% = 746.350 đồng/tháng.
4. Người quản lý doanh nghiệp đóng BHXH bằng cách nào?
Người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương có thể đóng theo các phương thức:
Hằng tháng;
3 tháng một lần;
6 tháng một lần.
Trường hợp doanh nghiệp đang tham gia BHXH, BHYT cho người lao động khác thì có thể thực hiện đóng thông qua doanh nghiệp theo phương thức phù hợp.
5. Có phải mọi doanh nghiệp không có nhân viên đều phải đóng BHXH?
Cần phân biệt nghĩa vụ của doanh nghiệp với nghĩa vụ tham gia của người quản lý.
BHXH bắt buộc được xác định theo từng đối tượng thuộc diện tham gia. Vì vậy, không nên hiểu rằng chỉ cần doanh nghiệp có giấy đăng ký kinh doanh là doanh nghiệp phải đóng một khoản BHXH cố định.
Đối với mô hình chỉ có một người, cần xác định:
Người đó có phải là người quản lý doanh nghiệp hay không;
Có hưởng lương hay không;
Có thuộc trường hợp loại trừ khỏi BHXH bắt buộc hay không;
Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH được xác định như thế nào.
Đặc biệt, người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương vẫn thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo Luật BHXH 2024, trừ trường hợp thuộc diện loại trừ theo quy định.
6. Doanh nghiệp không có người đóng BHXH có phải đóng 2% kinh phí công đoàn?
Không nên mặc nhiên cho rằng không có người đóng BHXH tại doanh nghiệp thì doanh nghiệp được miễn kinh phí công đoàn.
Theo Luật Công đoàn và Nghị định 105/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp thuộc đối tượng đóng kinh phí công đoàn phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định.
Kinh phí công đoàn được xác định bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc cho người lao động.
Do đó, khi doanh nghiệp không có người lao động đóng BHXH tại doanh nghiệp, cần xác định nguyên nhân và xem doanh nghiệp có phát sinh quỹ tiền lương thuộc căn cứ tính kinh phí công đoàn hay không. Không nên chỉ căn cứ vào việc doanh nghiệp hiện không phát sinh người đóng BHXH để kết luận được miễn khoản đóng này.
Ví dụ
Một người đồng thời làm việc theo hợp đồng lao động tại nhiều doanh nghiệp. Theo quy định về tham gia BHXH khi làm việc tại nhiều nơi, có trường hợp BHXH bắt buộc được đóng tại doanh nghiệp nơi giao kết hợp đồng thuộc thứ tự quy định.
Do đó, một doanh nghiệp có người lao động nhưng không phải là nơi đóng BHXH cho người đó không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đương nhiên được miễn kinh phí công đoàn nếu vẫn thuộc đối tượng và có quỹ tiền lương thuộc căn cứ tính theo quy định.
7. Tiền lương của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ công ty TNHH một thành viên có được tính vào chi phí được trừ?
Đây là nội dung cần lưu ý khi doanh nghiệp lập hồ sơ quyết toán thuế TNDN.
Theo quy định về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN, tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ thuộc khoản chi không được tính vào chi phí được trừ.
Vì vậy, cần phân biệt:
BHXH bắt buộc của người quản lý: vẫn thực hiện theo quy định BHXH;
Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc chủ công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ: không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo quy định.
8. Có phải tất cả người tham gia BHXH đều phải tự cập nhật CCCD?
Không phải trường hợp nào người tham gia cũng phải tự mình thực hiện thủ tục chuyển đổi.
BHXH Việt Nam đã triển khai việc sử dụng số định danh cá nhân/CCCD thay thế mã số BHXH trong hệ thống quản lý từ ngày 01/09/2026.
Theo hướng dẫn, nếu thông tin cá nhân đã đầy đủ, chính xác và được xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì cơ quan BHXH có thể thực hiện chuyển đổi, đồng bộ trên hệ thống.
Người tham gia và đơn vị quản lý nên chủ động rà soát:
Họ và tên;
Ngày sinh;
Giới tính;
Số định danh cá nhân/CCCD.
Nếu thông tin thiếu, sai hoặc chưa được xác thực thì cần phối hợp với cơ quan BHXH để cập nhật, điều chỉnh.
9. Một số lưu ý đối với doanh nghiệp một người
Doanh nghiệp chỉ có một người nên kiểm tra các nội dung sau:
Nội dung | Cần lưu ý |
|---|---|
Người quản lý doanh nghiệp | Có thể thuộc diện BHXH bắt buộc dù không hưởng lương |
Không có nhân viên | Không đồng nghĩa người quản lý được miễn BHXH |
Mức đóng BHXH | Người quản lý không hưởng lương đóng 25% tiền lương làm căn cứ |
Mức tham chiếu từ 01/07/2026 | 2.530.000 đồng/tháng |
Mức căn cứ đóng tối đa | 50.600.000 đồng/tháng |
BHYT | Người quản lý không hưởng lương còn phải tham gia BHYT theo quy định |
Kinh phí công đoàn | Cần xác định đối tượng và quỹ tiền lương làm căn cứ |
Thuế TNDN | Tiền lương của chủ DNTN, chủ công ty TNHH MTV do cá nhân làm chủ không được tính vào chi phí được trừ |
Kết luận
Doanh nghiệp một người không mặc nhiên được miễn BHXH bắt buộc.
Nếu người duy nhất vận hành doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp, người này thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo Luật BHXH 2024, kể cả trường hợp không hưởng tiền lương, trừ các trường hợp loại trừ theo quy định.
Từ ngày 01/07/2026, mức tham chiếu được xác định theo mức lương cơ sở mới là 2.530.000 đồng/tháng, do đó mức tiền lương làm căn cứ đóng của người quản lý không hưởng lương tối thiểu là 2.530.000 đồng và tối đa 50.600.000 đồng/tháng. Mức đóng BHXH là 25% tiền lương làm căn cứ đóng.
Doanh nghiệp cũng cần đồng thời rà soát nghĩa vụ về BHYT, kinh phí công đoàn và hồ sơ thông tin người tham gia để thực hiện đúng quy định hiện hành.





