Người làm giả hồ sơ, sửa chữa thông tin hoặc sử dụng hồ sơ không đúng sự thật để hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức phạt cao nhất đối với hành vi gian lận có thể lên tới 10 năm tù.
Việc làm giả hồ sơ hoặc cung cấp thông tin không đúng sự thật để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) không chỉ dẫn đến việc bị từ chối chi trả, thu hồi số tiền đã hưởng mà trong những trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người thực hiện còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vậy hành vi nào được xem là gian lận BHXH, BHTN? Khi nào người vi phạm có thể bị xử lý hình sự và mức phạt cụ thể ra sao?
1. Những hành vi gian lận BHXH, BHTN nào có thể bị xử lý hình sự?
Theo Điều 214 Bộ luật Hình sự 2015, tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp có thể phát sinh khi người thực hiện có một trong các hành vi như:
Lập hồ sơ giả để lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;
Cố ý sửa chữa hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ BHXH, BHTN;
Sử dụng hồ sơ giả;
Sử dụng hồ sơ đã bị làm sai lệch nhằm hưởng chế độ BHXH hoặc BHTN không đúng quy định.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp khai sai hoặc hồ sơ có sai sót đều đương nhiên bị truy cứu hình sự. Việc xử lý còn phải xem xét hành vi cụ thể, lỗi của người thực hiện, số tiền chiếm đoạt, mức thiệt hại và các yếu tố cấu thành tội phạm khác.
Điều 214 Bộ luật Hình sự quy định ngưỡng xử lý hình sự cơ bản là chiếm đoạt từ 10 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đồng, đồng thời vụ việc không thuộc các trường hợp được xử lý theo Điều 174, Điều 353 hoặc Điều 355 của Bộ luật Hình sự.
2. Gian lận BHXH, BHTN có thể bị phạt bao nhiêu năm tù?
Tùy tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, Điều 214 Bộ luật Hình sự chia mức xử lý thành ba khung chính.
Mức độ vi phạm | Trường hợp áp dụng | Hình phạt chính |
|---|---|---|
Khung 1 | Chiếm đoạt từ 10 triệu đến dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đến dưới 200 triệu đồng | Phạt tiền từ 20 - 100 triệu đồng; cải tạo không giam giữ đến 02 năm; hoặc phạt tù từ 03 tháng - 02 năm |
Khung 2 | Có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; dùng thủ đoạn tinh vi; tái phạm nguy hiểm; chiếm đoạt từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng | Phạt tiền từ 100 - 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 - 05 năm |
Khung 3 | Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên | Phạt tù từ 05 - 10 năm |
Như vậy, mức hình phạt cao nhất đối với tội gian lận BHXH, BHTN theo Điều 214 có thể lên tới 10 năm tù.
Hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể phải chịu một hoặc nhiều hình phạt bổ sung, bao gồm:
Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng;
Cấm đảm nhiệm chức vụ;
Cấm hành nghề;
Cấm làm một số công việc nhất định trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm.
Do đó, hậu quả pháp lý của hành vi gian lận bảo hiểm không chỉ nằm ở việc hoàn trả khoản tiền đã hưởng sai mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến công việc và hoạt động nghề nghiệp của người vi phạm.
3. Ví dụ về hành vi có nguy cơ bị xem là gian lận BHXH, BHTN
Một số tình huống có thể phát sinh rủi ro pháp lý gồm:
Làm giả giấy tờ để đủ điều kiện hưởng chế độ BHXH;
Sửa thông tin trên hồ sơ hưởng chế độ nhằm tăng số tiền được nhận;
Sử dụng hồ sơ không đúng sự thật để nhận trợ cấp thất nghiệp;
Cố tình sử dụng giấy tờ đã bị chỉnh sửa để yêu cầu cơ quan BHXH chi trả;
Phối hợp với người khác lập hồ sơ khống nhằm chiếm đoạt tiền từ quỹ BHXH hoặc BHTN.
Việc một trường hợp cụ thể có cấu thành tội phạm hay không phải căn cứ vào hồ sơ, chứng cứ, số tiền liên quan và kết luận của cơ quan có thẩm quyền; không thể chỉ dựa vào việc hồ sơ có sai sót để kết luận có hành vi phạm tội.
4. Cơ quan BHXH có được từ chối chi trả chế độ không?
Có.
Theo Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền từ chối chi trả đối với:
Chế độ BHXH bắt buộc;
BHXH tự nguyện;
Bảo hiểm thất nghiệp;
Bảo hiểm y tế,
nếu yêu cầu chi trả không đúng quy định của pháp luật.
Trong trường hợp từ chối, cơ quan BHXH phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
Điều này đồng nghĩa với việc khi phát hiện hồ sơ không đáp ứng điều kiện hoặc có thông tin không hợp lệ, cơ quan BHXH có quyền không thực hiện việc chi trả thay vì vẫn thanh toán rồi mới xử lý sau.
5. Những khoản bảo hiểm nào được trừ khi tính thuế TNCN?
Bên cạnh các quy định về xử lý hành vi gian lận bảo hiểm, từ ngày 01/7/2026, Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết việc xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công. Nghị định này được ban hành ngày 30/6/2026 và có hiệu lực từ 01/7/2026.
Theo quy định tại Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, một số khoản đóng góp bảo hiểm có thể được trừ trước khi xác định thu nhập tính thuế TNCN, gồm:
Bảo hiểm y tế;
Bảo hiểm thất nghiệp;
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với những ngành, nghề bắt buộc phải tham gia;
Bảo hiểm xã hội tự nguyện;
Bảo hiểm y tế tự nguyện;
Khoản đóng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung;
Khoản mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện;
Khoản mua bảo hiểm nhân thọ.
Lưu ý về mức giảm trừ 3 triệu đồng/tháng
Đối với ba nhóm gồm:
Bảo hiểm hưu trí bổ sung;
Bảo hiểm hưu trí tự nguyện;
Bảo hiểm nhân thọ,
tổng số tiền được trừ khi xác định thu nhập tính thuế tối đa là 03 triệu đồng/tháng.
Mức này tính cả phần người sử dụng lao động đóng cho người lao động và phần người lao động tự đóng nếu có.
6. Người làm việc ở nước ngoài có được trừ khoản bảo hiểm đã đóng không?
Trường hợp cá nhân cư trú tại Việt Nam có thu nhập từ tiền lương, tiền công ở nước ngoài và đã tham gia các loại bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia nơi làm việc thì các khoản bảo hiểm đáp ứng điều kiện cũng có thể được trừ khi xác định thu nhập tính thuế tại Việt Nam.
Các khoản này có thể gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp hoặc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc.
Người nộp thuế cần có chứng từ liên quan để chứng minh khoản bảo hiểm thực tế đã đóng.
Kết luận
Gian lận trong quá trình hưởng BHXH hoặc BHTN là hành vi có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Trường hợp lập hồ sơ giả, làm sai lệch hồ sơ hoặc sử dụng hồ sơ giả nhằm chiếm đoạt tiền bảo hiểm, nếu đạt ngưỡng và đủ các yếu tố cấu thành theo Điều 214 Bộ luật Hình sự, người thực hiện có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc bị phạt tù lên đến 10 năm.
Đồng thời, cơ quan BHXH có quyền từ chối các yêu cầu hưởng chế độ không đúng quy định và phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do từ chối.
Đối với người lao động và doanh nghiệp, việc lập, lưu trữ và sử dụng hồ sơ BHXH, BHTN cần bảo đảm thông tin chính xác, trung thực và có đầy đủ chứng từ để hạn chế rủi ro bị từ chối giải quyết chế độ hoặc phát sinh trách nhiệm pháp lý.
Căn cứ pháp lý:
Bộ luật Hình sự 2015, Điều 214;
Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15;
Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Thông tin trong bài viết mang tính chất tham khảo và được cập nhật theo quy định pháp luật tại thời điểm biên soạn.





